Một số giải pháp đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại tỉnh Nam Định giai đoạn 2020 - 2025

Với sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Tỉnh uỷ, của cấp uỷ các cấp và sự vào cuộc quyết liệt của UBND tỉnh, các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, xã, sự cố gắng của đội ngũ công chức, viên chức, công tác CCHC của tỉnh Nam Định giai đoạn 2015 -2020 với những giải pháp đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm đã tạo ra một diện mạo mới về CCHC với những kết quả nổi bật:

Thứ nhất, là việc tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của chính quyền các cấp trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực đầu tư - xây dựng, phát triển doanh nghiệp, môi trường, đất đai, tư pháp, nội vụ, an sinh xã hội… Trong 5 năm 2015 - 2020, đã rà soát, sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới sau rà soát 245 văn bản; ban hành 1.048 văn bản quy phạm pháp luật; đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh trên các lĩnh vực. Kết quả, môi trường đầu tư kinh doanh chuyển biến rõ nét; năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hàng năm đều được nâng lên (năm 2017 xếp thứ 41, năm 2018 xếp thứ 35, năm 2019 xếp thứ 33).

Thứ hai, Cải cách thủ tục hành chính (TTHC) là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách. Thủ tục hành chính không chỉ liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền, mà còn đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Cùng với yêu cầu phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính từng bước được định hình về nội dung, phương hướng triển khai với những bước đi, cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Công tác Kiểm soát TTHC đã đi vào ổn định, đạt hiệu quả trong giải quyết TTHC cho cá nhân, doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực. Từ năm 2015 đến năm 2020, UBND tỉnh đã ban hành 101 Quyết định công bố 5.581 TTHC trong đó ban hành mới 2.704 TTHC, sửa đổi 719 TTHC, bãi bỏ 2.036 TTHC. 

Cải cách TTHC không chỉ là công khai, minh bạch TTHC mà còn đi sâu vào rà soát, đơn giản hóa TTHC, tập trung kiến nghị vào loại bỏ những quy định, những thủ tục không phù hợp, không cần thiết, gây phiền hà, sách nhiễu, khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định về cơ chế chính sách, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng, cấp các loại giấy phép, đơn giản hóa trình tự thực hiện, giảm thời gian, thành phần hồ sơ. Giai đoạn từ 2015 - 2020, tổng số TTHC được rà soát: 1.012 TTHC, trong đó giữ nguyên 700 TTHC, kiến nghị đơn giản hóa 312 TTHC.

Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thường xuyên và có nề nếp, hiện  có 17/17 cơ quan chuyên môn của tỉnh thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tập trung tại Trung tâm PVHCC của tỉnh; 10/10 đơn vị hành chính cấp huyện, 226/226 xã phường, thị trấn thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông. Cải cách TTHC còn đi sâu vào việc đẩy mạnh liên thông trong giải quyết TTHC giữa các ngành các cấp cấp; tăng số lượng các TTHC trực tuyến mức độ 3, 4…, từ năm 2015 đến nay đã tiếp nhận hơn 5 triệu hồ sơ, số hồ sơ giải quyết đúng hạn đạt 99,5%.

Thứ ba, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, nâng cao chất lượng công vụ, công chức, trọng tâm là việc triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, quyết liệt Nghị quyết 18-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng của các đơn vị sự nghiệp công lập của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII; Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá XII về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã. Kết quả tới nay, đã hợp nhất 03 xã thuộc diện phải sắp xếp giai đoạn 2019 - 2021; thí điểm hợp nhất cơ quan Văn phòng Huyện uỷ với Văn phòng HĐND-UBND tại 03 huyện, hợp nhất Ban Tổ chức Huyện uỷ với Phòng Nội vụ tại 01 huyện; thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư, Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh, ban quản lý dự án đầu tư khu vực các huyện, thành phố. Số đầu mối các đơn vị sự nghiệp công lập giảm là 199 đơn vị vượt chỉ tiêu so với kế hoạch đã đề ra; giảm số lượng số đầu mối cấp phòng, khoa trong đơn vị sự nghiệp là 101; tổ chức lại và chuyển sang cơ chế tự chủ kinh phí chi thường xuyên đối với 15 đơn vị; số biên chế giảm do tổ chức lại, giải thể và chuyển sang đơn vị tự chủ là 312.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong nhiệm kỳ qua đó là việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức, tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Ban Chấp hành Trung ương. Theo đó, trong giai đoạn 2015 - 2020, tỉnh Nam Định thực hiện tinh giản biên chế 3.841 người, trong đó:  Khối hành chính sự nghiệp 2.603 người;  khối xã, phường, thị trấn là 738 người. Dự kiến năm 2021 tinh giảm 1.107 người .

Thứ tư, hiện đại hoá hành chính: ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) xây dựng Chính quyền điện tử tại tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, cụ thể:

- Phần mềm quản lý văn bản và điều hành được triển khai đến 100% các cơ quan Đảng, Đoàn thể, Nhà nước 3 cấp của tỉnh và đến các cơ quan Trung ương và một số doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh. Trên 90% văn bản trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử và được kết nối liên thông qua Trục liên thông văn bản của tỉnh. Bình quân một tháng có gần 60.000 văn bản đến và hơn 11.000 văn bản đi được xử lý trên phần mềm.

- Triển khai ứng dụng chữ ký số chuyên dùng: Sở Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ cấp 533 chứng thư số cho tổ chức và 1.716 chứng thư số cho cá nhân là các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh; các sở, ban, ngành của tỉnh, các đơn vị trực thuộc các sở, ban, ngành; Huyện ủy, HĐND và UBND huyện, các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện và UBND các xã, phường, thị trấn trấn trên địa bàn toàn tỉnh. Đây là yếu tố then chốt để hoàn thành việc ứng dụng chữ ký số chuyên dùng thực hiện việc gửi, nhận văn bản điện tử thay thế văn bản giấy trong giải quyết công việc. Bình quân hàng tháng có gần 9.000 văn bản sử dụng chữ ký số của các cơ quan hành chính nhà nước ở 3 cấp của tỉnh được xử lý trên phần mềm Quản lý văn và gửi đi trên Trục liên thông văn bản của tỉnh.

- Xây dựng Cổng cung cấp dịch vụ công trực tuyến của tỉnh: 100% các cơ quan hành chính nhà nước 3 cấp của tỉnh đã thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả TTHC trên Cổng cung cấp dịch vụ công trực tuyến của tỉnh. Cổng cung cấp dịch vụ công trực tuyến của tỉnh niêm yết công khai 1.694 TTHC, cung cấp 62,30% dịch vụ công mức độ 3, mức độ 4. Đến nay đã có hơn 1,6 triệu lượt người truy cập vào Cổng. Trên 50% số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đã phát sinh hồ sơ. Mức độ hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ được công khai trên Cổng dịch vụ công của tỉnh (năm 2020 số thủ tục hành chính tiếp nhận trên Cổng là 159.777 hồ sơ; trong đó cấp xã là 83.508 hồ sơ). Hồ sơ mức độ 3, mức độ 4 là 10.749 hồ sơ. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn đạt 99,5%.

- Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành quan trọng do Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và tỉnh xây dựng được các cơ quan trong tỉnh triển khai có hiệu quả như: Cơ sở dữ liệu Quản lý dân cư; Quản lý doanh nghiệp; Quản lý đât đai; Quản lý y tế;... Sở Thông tin và Truyền thông đã triển khai các phần mềm, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trên địa bàn tỉnh như: Cơ sở dữ liệu quản lý cán bộ công chức; Cơ sở dữ liệu quản lý giống cây trồng, Cơ sở dữ liệu báo cáo thống kê ngành thông tin và truyền thông…

Với sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp, công tác CCHC của tỉnh Nam Định đã có những bước đi mạch lạc, đúng hướng, sát hợp với tình hình thực tiễn, cho những kết quả đáng ghi nhận, tạo đà cho cho việc triển khai trong giai đoạn mới.

Phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, đồng thời tạo ra sự bứt phá với mục tiêu đến năm 2025 đưa công tác CCHC thuộc nhóm khá của cả nước, tỉnh Nam Định đề ra một số nhóm giải pháp chủ yếu như sau:

Một là, rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước, đồng thời với việc triển khai toàn diện, kịp thời các văn bản, chính sách, pháp luật của nhà nước trên các lĩnh vực;

Hai là, thực hiện sắp xếp lại cơ quan hành chính các cấp, đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết 18, 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), nâng cao chất lượng đội ngũ công chức; trọng tâm là cơ cấu lại tổ chức nội bộ của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng tinh giản, hiệu lực, hiệu quả; sửa đổi đề án vị trí việc làm các cơ quan hành chính cho phù hợp với quy định mới của Chính phủ; chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện sang hoạt động theo cơ chế tự chủ.

Ba là, tiếp tục cải cách công vụ, cải cách TTHC; hiện đại hóa hành chính và cải cách tài chính công. Tăng cường tính liên thông trong cải cách TTHC, cần tạo ra cơ sở dữ liệu trên các lĩnh vực đảm bảo liên thông được với cơ sở dữ liệu quốc gia, chia sẻ được giữa các cơ quan nhà nước trong tỉnh để giảm thời gian giải quyết TTHC. Mức độ hiệu quả của giải quyết TTHC cần phải được tính trên cơ sở sự hài lòng của người dân, tổ chức, thời gian, kết quả thủ tục được giải quyết.

Hiện đại hóa nền hành chính gắn với xây dựng Chính quyền điện tử. Xây dựng giải pháp đồng bộ để hình thành đội ngũ cán bộ, công chức điện tử và công dân, doanh nghiệp điện tử. Hiện đại hóa nền hành chính cần phải kết hợp cơ sở hạ tầng kỹ thuật của hệ thống hành chính và hạ tầng kỹ thuật của các doanh nghiệp đang được người dân và tổ chức sử dụng mang tính rộng rãi, phổ biến hiện có như mạng xã hội Zalo, Ví điện tử...

Cải cách tài chính công gắn với mục tiêu nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực tài chính; sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, phù hợp với thực tiễn; tăng cường kiểm soát bảo đảm kỷ luật, kỷ cương về thu, chi ngân sách nhà nước. Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý ngân sách theo hướng giảm dần việc quản lý ngân sách theo định mức đầu vào, hướng tới xây dựng và quản lý ngân sách, tài chính công theo đầu ra; sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển, tạo ra động lực cho phát triển, tránh sự đầu tư dàn trải, đầu tư kém hiệu quả, đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ sở vật chất.

Bốn là, tiếp tục nâng cao nhận thức, coi trọng công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải CCHC. Bảo đảm sự nhất quán, kiên trì, liên tục trong triển khai cải CCHC của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các địa phương. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, của cơ quan chủ trì tham mưu trong công tác điều phối chung, tổng hợp, đôn đốc và theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ cải CCHC trên từng lĩnh vực.

Năm là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình triển khai thực hiện công tác cải CCHC; Tăng cường, phát huy vai trò giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với công tác cải CCHC. Nâng cao năng lực của đội ngũ công chức làm công tác cải CCHC; bố trí đủ nguồn lực tài chính cho cải CCHC./.

                                                                                                           Phòng Cải cách hành chính     

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Văn bản - tài liệu

Xem nhiều nhất