Tình hình và kết quả triển khai thực hiện Nghị định 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
 

 

Sau hội nghị của tỉnh, UBND các huyện, thành phố đã tổ chức hội nghị triển khai đến các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của huyện, thành phố, các ban, ngành của huyện, Bí thư, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND và công chức chuyên môn của các xã, phường, thị trấn.
Sau hơn 6 tháng triển khai, đến nay, các xã, phường, thị trấn, các huyện, thành phố đã hoàn tất các thủ tục theo quy định và báo cáo kết quả dự kiến phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn về UBND tỉnh (qua Sở Nội vụ) đề nghị ra Quyết định phân loại.
Mục đích phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
Điều 2 Nghị định 159/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã nêu rõ mục đích phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn như sau:
- Làm căn cứ để nhà nước có chính sách phát triển kinh tế xã hội, góp phần bảo đảm ổn định của đơn vị hành chính cấp xã và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở.
- Làm cơ sở để xác định số lượng cán bộ, công chức chuyên trách và không chuyên trách. Số lượng thành viên của Uỷ ban nhân dân, bổ sung chế độ chính sách hợp lý đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.
Các tiêu chí và cách tính điểm để phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
Tại Điều 4, chương II Nghị định 159/2005/NĐ-CP đã nêu các tiêu chí để phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn gồm:
-               Dân số,
-               Diện tích,
-               Các yếu tố đặc thù.
Đối với  xã đồng bằng:
- Về dân số: xã có dân số dưới 2.000 nhân khẩu được tính 45 điểm, xã có từ 2.000 đến 8.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 11 điểm và được tính từ 46 đến 111 điểm. Xã có trên 8.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 10 điểm và được tính từ 112 đến tối đa không quá 200 điểm.
- Về diện tích: Xã có diện tích tự nhiên dưới 500 ha được tính 30 điểm, xã có từ 500 ha đến 2.500 ha, cứ tăng 1.000 ha được tính thêm 1 điểm và được tính từ 31 đến 52 điểm; xã có trên 2.500 ha, cứ tăng 1.000 ha được tính thêm 10 điểm và được tính từ 53 đến tối đa không quá 100 điểm.
- Các yếu tố đặc thù:
 + Xã có số lao động nông-lâm-ngư-diêm nghiệp chiếm thấp hơn hoặc bằng 45% tổng số lao động toàn xã được tính 10 điểm.
 + Xã có tỷ lệ thu ngân sách bình quân hàng năm trên địa bàn (tính bình quân trong 3 năm đến năm ngân sách gần nhất) đạt 100% kế hoạch được tính 5 điểm, thu đạt thêm 10% được tính thêm 2 điểm đến tối đa không quá 15 điểm.
 + Xã có tỷ lệ tín đồ tôn giáo chiếm từ 30 đến 50% dân số được tính 10 điểm, chiếm trên 50% dân số được tính 15 điểm.
Đối với phường và thị trấn
- Về dân số: Phường và thị trấn có dân số dưới 3.000 nhân khẩu được tính 45 điểm, phường và thị trấn có từ 3.000 đến 10.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 10 điểm và được tính từ 46 đến 115 điểm. Phường và thị trấn có trên 10.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 9 điểm và được tính từ 116 đến không quá 200 điểm.
- Về diện tích: Phường và thị trấn có diện tích tự nhiên dưới 500 ha được tính 30 điểm; phường và thị trấn có từ 500 đến 2.000 ha, cứ tăng 500 ha được tính thêm 10 điểm và được tính từ 31 đến 60 điểm; phường và thị trấn có trên 2.000 ha, cứ tăng 500 ha được tính thêm 8 điểm và được tính từ 61 đến không quá 100 điểm.
- Các yếu tố đặc thù:
 + Phường thuộc đô thị loại đặc biệt được tính 20 điểm, thuộc đô thị loại I được tính 15 điểm, thuộc đô thị loại II được tính 10 điểm, thuộc đô thị loại III được tính 8 điểm, thuộc đô thị loại IV được tính 5 điểm, thị trấn có vị trí trung tâm huyện lỵ được tính 10 điểm.
 + Phường và thị trấn có tỷ lệ thu ngân sách bình quân hàng năm trên địa bàn (tính bình quân trong 3 năm đến năm ngân sách gần nhất) đạt 100% kế hoạch được tính 5 điểm; thu đạt thêm 10% được tính thêm 2 điểm đến không quá 15 điểm.
 + Phường và thị trấn có tín đồ tôn giáo chiếm từ 30 đến 50% dân số được tính 10 điểm, chiếm trên 50% dân số được tính 15 điểm.
Khung điểm để phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn: có 3 loại
- Xã, phường, thị trấn loại I: có từ 221 điểm trở lên
- Xã, phường, thị trấn loại II: có từ 141 đến 220 điểm
- Xã, phường, thị trấn loại III: có từ 140 điểm trở xuống.
Tình hình và kết quả triển khai thực hiện Nghị định 159/2005/NĐ-CP của Chính phủ:
- Sau hội nghị triển khai của các huyện, thành phố, các xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã tiến hành đánh giá và tự chấm điểm, tự phân loại xã, phường, thị trấn mình theo tiêu chí của Chính phủ quy định. Sau khi hoàn thành các thủ tục ở địa phường, có xác nhận của các phòng chuyên môn của UBND huyện, thành phố, đó là: phòng Tài nguyên-môi trường xác nhận về diện tích, phòng Thống kê xác nhận về dân số, phòng Tài chính-kế hoạch xác nhận kết quả thu ngân sách, UBND các xã, phường, thị trấn đã báo cáo lên UBND huyện, thành phố về kết quả đánh giá tự phân loại của mình. Sau khi kiểm tra, xem xét lại, UBND huyện, thành phố đã trình ra HĐND huyện, thành phố xem xét và phê chuẩn việc đánh giá, xếp loại các đơn vị hành chính cấp xã của UBND huyện, thành phố. Sau khi được HĐND các huyện, thành phố phê duyệt, UBND các huyện, thành phố có Tờ trình, trình UBND tỉnh phê duyệt và ra Quyết định phân loại các đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn trong tỉnh.
Kết quả phân loại sau khi đã tiến hành đánh giá, phân loại của các xã, phường, thị trấn, các huyện, thành phố như sau:
 Loại I: 30 đơn vị;
 Loại II: 183 đơn vị;
 Loại III: 16 đơn vị;

Các tin khác